Ngày nghỉ hàng năm của người lao động

Ngày nghỉ hàng năm của người lao động

Bài giảng: Ngày nghỉ hàng năm của người lao động
© ThS. Nguyễn Thị Thu Hoài. Khoa luật. Đại học Đà Lạt

1. Số ngày nghỉ hàng năm
Căn cứ pháp lý: Điều 111, Điều 112, Điều 113 và Điều 114 Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 7 Nghị định 45/2013/NĐ-CP; Điều 26 Nghị định 05/2015/NĐ-CP.
Từ Bộ luật Lao động năm 1994 đến Bộ luật Lao động năm 2012, các quy định pháp luật về ngày nghỉ hàng năm không thay đổi. Không những thế các quy định mới sau này ngày càng chi tiết, cụ thể và dễ áp dụng hơn.
Số ngày nghỉ hàng năm được xác định cho từng năm làm việc. Trong một năm, người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động, được nghỉ hàng năm theo một trong ba mức khởi điểm 12, 14 hoặc 16 ngày trong một năm, tùy thuộc vào môi trường lao động, đối tượng lao động.
Cụ thể, Điều 111 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:
“Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hàng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:
– 12 ngày làm việc đối với người lao động làm các công việc trong điều kiện bình thường;
-14 ngày làm việc đối với người làm các công việc nặng nhọc, độc hai, nguy hiểm hoặc làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ lao động – thương binh và xã hội chủ trì phối hợp với bộ y tế ban hành hoặc người lao động chưa thành niên hoặc người lao động khuyết tật.
-16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt, đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ lao động thương binh và xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành”.
Số ngày nghỉ hàng năm khởi điểm nói trên còn được tăng thêm theo thâm niên. Số ngày nghỉ hàng năm tăng thêm theo thâm niên áp dụng đối với người lao động có trên 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động. Theo Điều 112 Bộ luật Lao động năm 2012, cứ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hàng năm được thêm 01 ngày.
Ví dụ 1: Anh A làm việc liên tục cho doanh nghiệp B từ ngày 01/01/2010 trong điều kiện lao động bình thường. Vậy ngày nghỉ hàng năm của anh A được tính như sau:
– Từ năm 2010 đến năm 2014: 12 ngày/1 năm
– Từ năm 2015 đến năm 2019: 13 ngày/1 năm
– Từ năm 2020 đến năm 2024: 14 ngày/1 năm
Pháp luật cũng quy định một số loại thời gian tuy người lao động không làm việc nhưng vẫn được coi là thời gian làm việc của người lao động để tính số ngày nghỉ hằng năm. Theo Điều 6 Nghị định 45/2013/NĐ-CP các loại thời gian này bao gồm:
– Thời gian học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động theo cam kết trong hợp đồng học nghề, tập nghề.
– Thời gian thử việc theo hợp đồng lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động.
– Thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương theo quy định của pháp luật.
– Thời gian nghỉ việc không hưởng lương nếu được người sử dụng lao động đồng ý nhưng cộng dồn không quá 01 tháng.
– Thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng cộng dồn không quá 6 tháng.
– Thời gian nghỉ do ốm đau nhưng cộng dồn không quá 02 tháng.
– Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
– Thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn.
– Thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động.
– Thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc.
– Thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội.
Trường hợp người lao động có thời gian làm việc dưới 12 tháng trong một năm thì thời gian nghỉ hàng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Theo Điều 7 Nghị định 45/2013/NĐ-CP, cách tính như sau: lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày được nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm để tính thành số ngày được nghỉ hằng năm; kết quả phép tính lấy tròn số hàng đơn vị, nếu phần thập phân lớn hơn hoặc bằng 0,5 thì làm tròn lên 01 đơn vị.
Ví dụ 2: Anh A làm việc cho doanh nghiệp B liên tục từ 01/01/2010 trong điều kiện lao động nặng nhọc. Đến 01/8/2016 anh A thôi việc do hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn. Từ 01/01/2016 đến 01/8/2016, số ngày nghỉ hàng năm của anh A được tính như sau: (14 + 1)/ 12 x 7 = 8.75 = 9 ngày.
Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hàng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hàng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động.
2. Số ngày đi đường
Khi nghỉ hàng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường (cả đi lẫn về) ít hơn hoặc bằng hai ngày thì số ngày nghỉ hàng năm không tăng thêm. Người lao động phải sử dụng số ngày nghỉ hàng năm hiện có để đi đường.
Ví dụ 3: Anh A thường trú ở Nha Trang, là công nhân của công ty Y tại thành phố Hồ Chí Minh từ 01/01/2015, làm việc trong điều kiện bình thường, mỗi lần nghỉ hàng năm về thăm nhà, anh A phải mất 02 ngày đi đường bằng ô tô (cả đi lẫn về). Như vậy, số ngày nghỉ hàng năm của anh A trong năm 2016 vẫn là 12 ngày.
Nhưng nếu thời gian đi đường bằng các phương tiện nói trên, trên hai ngày thì từ ngày thứ ba trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hàng năm. Tức là người lao động không phải sử dụng số ngày nghỉ hàng năm hiện có để đi đường, mà người lao động sẽ được tính ngày đi đường riêng. Nếu trong một năm, người lao động nghỉ hàng năm thành nhiều lần thì số ngày đi đường chỉ được tính một lần trong một năm.
Ví dụ 4: Anh A thường trú ở Hưng Yên, là công nhân của công ty Y tại thành phố Hồ Chí Minh từ 01/01/2010, làm việc trong điều kiện bình thường, mỗi lần nghỉ hàng năm về thăm nhà, anh A phải mất 05 ngày đi đường bằng ô tô (cả đi lẫn về). Như vậy, số ngày nghỉ hàng năm của anh A trong năm 2016 là 12 + 1 + 3 = 16 ngày.
Như vậy, tổng số ngày nghỉ hàng năm của người lao động bằng số ngày nghỉ hàng năm khởi điểm cộng với số ngày nghỉ hàng năm tăng thêm theo thâm niên (nếu có), cộng với số ngày đi đường (nếu có).
3. Chế độ tiền lương ngày nghỉ hàng năm
Thứ nhất, vấn đề tạm ứng tiền lương, tiền tàu xe đi đường ngày nghỉ hằng năm.
Theo Điều 113 Bộ luật Lao động năm 2012, khi nghỉ hằng năm, người lao động được tạm ứng trước một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.
Đối với người lao động miền xuôi làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và người lao động ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo làm việc ở miền xuôi thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền tàu xe và tiền lương những ngày đi đường.
Đối với các trường hợp khác, tiền tàu xe và tiền lương những ngày đi đường do hai bên thoả thuận.
Thứ hai, chế độ tiền lương ngày nghỉ hàng năm cho người lao động có nghỉ hàng năm.
Khi người lao động nghỉ hàng năm, được hưởng nguyên lương theo hợp động lao động theo Khoản 2 Điều 26 Nghị định 05/2015/NĐ-CP. Tiền lương ngày nghỉ hàng năm được tính như sau: Lấy số tiền lương ghi trong hợp đồng lao động của tháng trước liền kề, chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của người sử dụng lao động, nhân với tổng số ngày nghỉ hằng năm của người lao động.
Ví dụ 5: Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động của tháng 8/2016 là 7 triệu đồng, tháng 9 là 8 triệu đồng. Số ngày làm việc bình thường trong một tháng là 22 ngày. Người lao động xin nghỉ hàng năm từ 5/9/2016 đến 9/9/2016 (5 ngày). Vậy tiền lương của 5 ngày nghỉ hàng năm là:
7 triệu đồng/22 ngày x 5 ngày = 1.590.909 đồng.
Thứ ba, chế độ tiền lương ngày nghỉ hàng năm cho người lao động chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm. Căn cứ Khoản 3, 4 Điều 26 Nghị định 05/2015/NĐ-CP, tiền lương trong trường hợp này được tính như sau:
Một là, đối với người lao động do thôi việc hoặc bị mất việc làm mà chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm, tiền lương được tính như sau:
+ Đối với người lao động đã làm việc từ đủ 06 tháng trở lên, tiền lương ngày nghỉ hàng năm bằng tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm chia cho số ngày làm việc bình thường theo quy định của người sử dụng lao động của tháng trước liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động tính trả, nhân với số ngày chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm.
Ví dụ 6: Người lao động làm việc tại doanh nghiệp từ đầu năm 2010. Đến năm 2016 người lao động xin thôi việc và được công ty đồng ý cho thôi việc từ 15/8/2016. Tiền lương theo hợp đồng lao động từ tháng 01/2016 đến tháng 6/2016 là 7 triệu đồng/tháng, từ tháng 7/2016 trở đi là 8 triệu đồng/tháng. Số ngày làm việc bình thường trong tháng 7 là 22 ngày. Số ngày nghỉ hàng năm chưa nghỉ là 10 ngày. Mọi chế độ khi thôi việc được người sử dụng lao động tính trả vào tháng 8/2016. Vậy tiền lương ngày nghỉ hàng năm của người lao động là:
((7 triệu đồng x 5 + 8 triệu đồng) / 6 )/ 22 ngày x 10 ngày = 3.257.576 đồng
+ Đối với người lao động có thời gian làm việc dưới 06 tháng là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của toàn bộ thời gian làm việc chia cho số ngày làm việc bình thường theo quy định của người sử dụng lao động của tháng trước liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động tính trả, nhân với số ngày chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm.
Hai là, đối với người lao động vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm, tiền lương được tính như sau:
+ Đối với người lao động đã làm việc từ đủ 06 tháng trở lên, tiền lương ngày nghỉ hàng năm bằng tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người sử dụng lao động tính trả bằng tiền những ngày chưa nghỉ hằng năm chia cho số ngày làm việc bình thường theo quy định của người sử dụng lao động của tháng trước liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động tính trả, nhân với số ngày chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm.
+ Đối với người lao động có thời gian làm việc dưới 06 tháng là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của toàn bộ thời gian làm việc chia cho số ngày làm việc bình thường theo quy định của người sử dụng lao động của tháng trước liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động tính trả, nhân với số ngày chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm.
Ví dụ 7: Người lao động làm việc tại doanh nghiệp từ tháng 8/2016. Tiền lương theo hợp đồng lao động từ tháng 8/2016 đến tháng 10/2016 là 7 triệu đồng/tháng, từ tháng 11/2016 trở đi là 8 triệu đồng/tháng. Số ngày làm việc bình thường trong tháng 11 là 22 ngày. Số ngày nghỉ hàng năm chưa nghỉ là 5 ngày (lý do chưa nghỉ hàng năm là doanh nghiệp không thể sắp xếp ngày nghỉ hàng năm cho người lao động vì nhu cầu sản xuất kinh doanh hợp pháp). Tháng tính trả tiền lương ngày nghỉ hàng năm là tháng 12. Vậy tiền lương ngày nghỉ hàng năm của người lao động là:
((7 triệu đồng x 3 + 8 triệu đồng x 2)/ 5)/ 22 x 5 = 1.681.818 đồng.
Khi người lao động đã có quyết định của người sử dụng lao động cho phép nghỉ hàng năm, nhưng lại được huy động trở lại làm việc và người lao động đồng ý thì tiền lương của những ngày nghỉ hàng năm này sẽ được trả theo chế độ tiền lương làm thêm. (xem trong bài Tiền lương)

Bài giảng liên quan: Sơ lược về hợp đồng lao động, Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp, Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, Hợp đồng lao động vô hiệu, Chế độ tiền lương của người lao động, Kỷ luật lao động-Trách nhiệm vật chất, Giải quyết tranh chấp lao động tập thể, Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, Trợ cấp thôi việc, Trợ cấp mất việc làm, Chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *