Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Bài giảng: Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
© ThS. Nguyễn Thị Thu Hoài. Khoa luật. Đại học Đà lạt

1. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Căn cứ pháp lý: Điều 38, Điều 39, điều 41 và điều 42 Bộ luật Lao động năm 2012
Đầu tiên phải khẳng định rằng, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật không phải là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động và càng không phải là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật lao động. Nếu có chăng thì đó chỉ là kết quả của quá trình giải quyết hậu quả pháp lý của đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này”. Vậy căn cứ Điều 38, Điều 39 và Điều 42 Bộ luật Lao động năm 2012, ta có thể xác định được các trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật bao gồm:
Thứ nhất, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không có lý do chính đáng .
Thứ hai, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không tuân thủ thời gian báo trước.
Thứ ba, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, mà người lao động không thuộc trường hợp bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Thứ tư, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.
Thứ năm, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.
Thứ sáu, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Thứ bảy, Người sử dụng lao động kỷ luật lao động người lao động bằng hình thức sa thải nhưng trái với quy định của pháp luật.
Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, người sử dụng lao động phải thực hiện một số nghĩa vụ đối với người lao động như sau:
– Người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
– Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường gồm tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động.
– Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường gồm tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và trợ cấp thôi việc, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
– Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường gồm tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
– Trường hợp người sử dụng lao động vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.
Như vậy, khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật sẽ làm phát sinh một số nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với người lao động, trong đó có nghĩa vụ phải nhận người lao động trở lại làm việc. Nếu hai bên đồng thuận việc người lao động trở lại làm việc thì quan hệ pháp luật lao động vẫn được tiếp tục. Nhưng nếu người lao động không muốn tiếp tục làm việc hoặc người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì quan hệ lao động sẽ chấm dứt. Lúc này, trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động sẽ được chuyển hóa từ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thành hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động nhưng có kèm theo nghĩa vụ phải bồi thường của người sử dụng lao động.
2. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Căn cứ pháp lý: Điều 37, Điều 39, điều 41 và điều 43 Bộ luật Lao động năm 2012
Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này”. Vậy căn cứ Điều 37, Điều 39 và Điều 43 Bộ luật Lao động năm 2012, ta có thể xác định được các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật bao gồm:
Thứ nhất, Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không có lý do chính đáng;
Thứ hai, Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không tuân thủ thời gian báo trước.
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, người lao động phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
Thứ nhất, Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Thứ hai, Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.
Thứ ba, Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động. Theo Khoản 3 Điều 62 Bộ luật Lao động năm 2012, chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài.
Trong các nghĩa vụ nói trên, người lao động không có nghĩa vụ phải trở lại làm việc cho người sử dụng lao động. Vậy, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cũng là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật lao động. Nhưng khác với các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp khác, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật không được hưởng các khoản trợ cấp (nếu có) từ người sử dụng lao động và cũng không được hưởng trợ cấp thất nghiệp (nếu có) theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp (Khoản 1 Điều 49 Luật Việc Làm 2013 có quy định về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp và điều khoản này đã loại trừ trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật.) mà còn phải bồi thường cho người sử dụng lao động.

Bài giảng liên quan: Sơ lược về hợp đồng lao động, Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp, Hợp đồng lao động vô hiệu, Chế độ tiền lương của người lao động, Ngày nghỉ hàng năm của người lao động, Kỷ luật lao động-Trách nhiệm vật chất, Giải quyết tranh chấp lao động tập thể, Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, Trợ cấp thôi việc, Trợ cấp mất việc làm, Chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *