Chế độ trợ cấp mất việc làm

Chế độ trợ cấp mất việc làm

Bài giảng: Chế độ trợ cấp mất việc làm
© ThS. Nguyễn Thị Thu Hoài. Khoa luật. Đại học Đà lạt

Căn cứ pháp lý:
– Điều 44, Điều 45, Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2012
– Điều 13, Điều 14, Điều 15 Nghị định 05/2015/NĐ-CP.
1. Khái niệm việc làm, mất việc làm và trợ cấp mất việc làm
Khoản 1 Điều 9 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”.
Theo quy định trên ta thấy, một hoạt động được xem là việc làm khi thỏa mãn đủ ba điều kiện sau:
Một là, việc làm phải là một hoạt động lao động. Hoạt động lao động thể hiện sự tương tác giữa người lao động với tư liệu sản xuất để tạo ra các sản phẩm cho xã hội, là quá trình tiêu hao sức lao động của người lao động. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng chỉ khi nào hoạt động lao động có tính hệ thống, thường xuyên và mang tính chất nghề nghiệp thì mới được gọi là việc làm. Do đó, không phải cứ có lao động thì được gọi là việc làm.
Hai là, hoạt động lao động đó phải tạo ra thu nhập. Thu nhập là những lợi ích vật chất hợp pháp mà người lao động có được thông qua hoạt động lao động. Nó thể hiện sự cân bằng giữa quá trình tiêu hao sức lao động và quá trình nhận thành quả để bù đắp cho sự tiêu hao sức lao động. Người lao động thực hiện hoạt động lao động không chỉ với mục đích tạo ra sản phẩm cho xã hội mà còn với mục đích tạo ra thu nhập để nuôi bản thân và gia đình. Do đó sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu cứ thực hiện hoạt động lao động mà lại không tạo ra thu nhập.
Ba là, hoạt động lao động đó không bị pháp luật cấm. Có những hoạt động lao động tạo ra thu nhập cao cho chính người lao động nhưng lại gây hại cho xã hội, cá nhân khác. Để duy trì cân bằng cuộc sống của những cá nhân trong xã hội, hành vi lao động của cá nhân này không được ảnh hưởng xấu đến những cá nhân khác, pháp luật có những quy định cấm một số hoạt động lao động. Do đó, người nào thực hiện các hoạt động lao động bị cấm thì không những không được thừa nhận là việc làm mà còn có thể phải chịu các trách nhiệm pháp lý khác.
Trong cuộc sống ta bắt gặp nhiều hoạt động lao động không được thừa nhận là việc làm. Ví dụ như hoạt động từ thiện bởi hoạt động này không tạo ra thu nhập, hoặc hoạt động buôn bán ma túy bởi hoạt động này bị pháp luật cấm. Một hoạt động lao động thường xuyên, có hệ thống, có tính nghề nghiệp và đem lại cho người lao động một khoản thu nhập hợp pháp thì được thừa nhận là việc làm.
Trong quan hệ lao động, mất việc làm là trường hợp người lao động thôi việc không phải xuất phát từ ý muốn của người sử dụng lao động hay của người lao động mà vì các nguyên nhân khách quan buộc người lao động và người sử dụng lao động phải chấm dứt quan hệ lao động với nhau. Khi người lao động bị mất việc làm, người lao động có thể được hưởng trợ cấp mất việc làm.
Trợ cấp mất việc làm là một khoản tiền do người sử dụng lao động chi trả cho người lao động trong trường hợp người lao động thôi việc vì nguyên nhân bị mất việc làm và thỏa mãn những điều kiện luật định.
Pháp luật đặt ra chế độ trợ cấp mất việc làm cho người lao động có ý nghĩa rất quan trọng. Chế độ này giúp cho người lao động sau khi thôi việc có một khoản tiền để trang trải cuộc sống trong thời gian tìm một công việc mới.
2. Các trường hợp thôi việc được xem là mất việc làm
Người lao động thôi việc trong các trường hợp sau đây được xem là bị mất việc làm và được xem xét để hưởng trợ cấp mất việc làm:
Thứ nhất, người lao động thôi việc vì người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế. Thay đổi cơ cấu, công nghệ là trường hợp người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động; thay đổi sản phẩm, cơ cấu sản phẩm; thay đổi quy trình, công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh doanh gắn với ngành nghề sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động. Còn lý do kinh tế là trường hợp khủng hoảng, suy thoái kinh tế; thực hiện chính sách của Nhà nước khi tái cơ cấu nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế. Khi có các trường hợp trên xảy ra, người sử dụng lao động phải lập phương án sử dụng lao động, phải tìm mọi cách sắp xếp việc làm mới cho người lao động, nếu không thể sắp xếp được việc làm mới cho người lao động thì mới được cho người lao động thôi việc. Người lao động thôi việc trong trường hợp này được xem là mất việc làm.
Thứ hai, người lao động thôi việc vì người sử dụng lao động thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã; chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Đối với trường hợp này, người sử dụng lao động kế tiếp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách phải chịu trách nhiệm tiếp tục sử dụng số lao động hiện có và tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động. Trong trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có, thì phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động, và những người lao động nào phải thôi việc trong trường hợp này vì người sử dụng lao động không sử dụng hết thì cũng bị xem là mất việc làm.
Như vậy, ta thấy rõ nguyên nhân khiến người lao động thôi việc trong các trường hợp nói trên đều mang tính chất khách quan. Và chỉ khi nào người lao động thôi việc thuộc một trong hai trường hợp kể trên mới được xem là bị mất việc làm và được xem xét để hưởng trợ cấp mất việc làm.
3. Điều kiện hưởng trợ cấp mất việc làm
Những người lao động thôi việc thuộc các trường hợp nêu ở mục 2.2.2 được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp mất việc làm khi thỏa mãn cả hai điều kiện sau đây:
Điều kiện thứ nhất là về thời gian làm việc thường xuyên. Người lao động phải có thời gian làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên thì mới được xem xét chi trả trợ cấp mất việc làm.
Thời gian làm việc thường xuyên hay còn gọi là thời gian đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động, bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần, nghỉ việc hưởng nguyên lương; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội.
Điều kiện thứ hai là thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm phải từ đủ 01 tháng trở lên. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật. Nếu thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm dưới 01 tháng thì dù người lao động thôi việc vì mất việc làm và có thời gian làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên thì cũng không được hưởng trợ cấp mất việc làm.
Ví dụ 1: Anh A làm việc ở doanh nghiệp B từ ngày 01/8/2006 đến ngày 25/10/2016 anh A thôi việc vì doanh nghiệp thay đổi cơ cấu tổ chức. Từ ngày 01/01/2009 trở đi anh A liên tục tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Trong trường hợp này thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là từ ngày 01/8/2006 đến 31/12/2008, là 2 năm 5 tháng được làm tròn thành 2,5 năm. Từ ngày 01/01/2009 trở đi không được tính là thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm, vì thời gian này anh A đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Doanh nghiệp B chỉ có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm cho anh A trên cơ sở 2,5 năm.
Cần phải lưu ý hai trường hợp sau:
Thứ nhất, trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã mà người lao động mới bị mất việc làm thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ trợ cấp mất việc làm đối với thời gian người lao động đã làm việc cho mình và thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động trước khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.
Thứ hai, người lao động tiếp tục được sử dụng, người lao động được đưa đi đào tạo lại để tiếp tục sử dụng, người lao động được chuyển sang làm việc không trọn thời gian tại doanh nghiệp sau khi chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản theo phương án sử dụng lao động, khi chấm dứt hợp đồng lao động vì mất việc làm thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm tính trả trợ mất việc làm đối với thời gian người lao động làm việc thực tế cho mình và trợ cấp thôi việc đối với thời gian người lao động làm việc thực tế tại doanh nghiệp trước khi chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản, kể cả thời gian làm việc tại khu vực nhà nước được tuyển dụng lần cuối vào doanh nghiệp chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản trước ngày 01 tháng 01 năm 1995.
4. Mức hưởng trợ cấp mất việc làm
Khi người lao động đủ điều kiện được hưởng trợ cấp mất việc làm thì sẽ được hưởng theo quy định sau: Mức hưởng trợ cấp mất việc làm được tính theo số năm làm việc để tính hưởng trợ cấp mất việc làm, cứ mỗi năm (đủ 12 tháng) làm việc trả 01 tháng tiền lương. trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc. Nhưng mức trợ cấp mất việc làm ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.
Có thể xây dựng công thức tính trợ cấp mất việc làm như sau:
M = T x L x 1
Trong đó:
M: mức hưởng, M >=2L
T: Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm
L: Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.
Ví dụ 2: Anh A làm việc ở doanh nghiệp B từ ngày 01/8/2006 đến ngày 25/10/2016 anh A thôi việc vì doanh nghiệp thay đổi cơ cấu tổ chức. Vậy căn cứ tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm cho anh A là tổng số tiền lương theo hợp đồng lao động của các tháng 4, 5, 6, 7, 8 và 9 chia cho 6.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ trợ cấp mất việc làm cho người lao động. Thời hạn thanh toán có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;
– Người sử dụng lao động hoặc người lao động gặp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh truyền nhiễm;
– Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế
Kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động của người sử dụng lao động.

Bài giảng liên quan: Sơ lược về hợp đồng lao động Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp, Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, Hợp đồng lao động vô hiệu, Chế độ trợ cấp thôi việc, Chế độ tiền lương của người lao động, Ngày nghỉ hàng năm của người lao động, Kỷ luật lao động-Trách nhiệm vật chất, Giải quyết tranh chấp lao động tập thể, Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, Chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *