Chế độ tiền lương của người lao động

Chế độ tiền lương của người lao động

Bài giảng: Chế độ tiền lương của người lao động
© ThS. Nguyễn Thị Thu Hoài. Khoa luật. Đại học Đà Lạt

1. Tiền lương
Theo Khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động 2012, tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.
Trong đó:
– Mức lương theo công việc hoặc chức danh là mức lương trong thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng. Mức lương đối với công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động và thời giờ làm việc bình thường (không bao gồm khoản tiền trả thêm khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định;
– Phụ cấp lương là khoản tiền bù đắp các yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ trong mức lương theo công việc hoặc chức danh;
– Các khoản bổ sung khác là khoản tiền bổ sung ngoài mức lương, phụ cấp lương và có liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động, trừ tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động.
Quy định này khá tiến bộ so với quy định cũ. Trong khi người sử dụng lao động thực hiện việc tách phụ cấp và các khoản bổ sung khác ra khỏi tiền lương theo công việc hoặc chức danh để cố gắng làm giảm tiền lương làm căn cứ tính các chế độ cho người lao động, giảm tiền lương làm căn cứ đóng các loại bảo hiểm thì pháp luật đã quy định tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Quy định này đã ngăn chặn sự trốn tránh trách nhiệm của người sử dụng lao động đồng thời đảm bảo quyền lợi của người lao động.
Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau. Mọi trường hợp trả lương đều phải căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc.
Tuy rằng việc trả lương là do hai bên thỏa thuận, nhưng mức lương theo sự thỏa thuận đó không được thấp hơn mức lương tối thiểu do chính phủ quy định.
Mức lương tối thiểu do chính phủ quy định có hai loại: mức lương cơ sở (trước đây còn gọi là lương tối thiểu chung) và mức lương tối thiểu vùng. Trong đó, mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội và hội có tính chất đặc thù ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; ở xã, phường, thị trấn và lực lượng vũ trang. Còn mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động, cơ quan tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam (gọi chung là doanh nghiệp). Qua từng thời kỳ kinh tế của đất nước, chính phủ ban hành các mức lương tối thiểu mới cho phù hợp với thực tế xã hội.

Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động được quy định bằng tiền Đồng Việt Nam, trừ trường hợp trả lương, phụ cấp lương cho người không cư trú, người cư trú là người nước ngoài theo quy định của pháp luật về ngoại hối.
Tiền lương có vai trò rất quan trọng đối với con người, đặc biệt là đối với người lao động không có thu nhập khác ngoài lương. Tiền lương đảm bảo cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình họ, là nguồn để đảm bảo tái sản xuất sức lao động của người lao động, là nguồn để chi nhiều khoản chi phí sinh hoạt như tiền ăn, ở, khám, chữa bệnh, phí học tập… Ngoài ra tiền lương còn tác động tích cực đến việc quản lý kinh tế, quản lý tài chính, quản lý lao động, quản lý sản xuất
2. Chế độ tiền lương khi người lao động thực hiện nghĩa vụ lao động
Khi người lao động thực hiện nghĩa vụ lao động theo hợp đồng lao động thì người lao động được nhận tiền lương theo hợp đồng lao động. Người lao động sẽ được nhận tiền lương theo một hình thức nhất định, do người sử dụng lao động lựa chọn. Người sử dụng lao động có thể chọn các hình thức trả lương theo thời gian (giờ, ngày, tuần, tháng), theo sản phẩm, hoặc theo khoán nhưng phải duy trì hình thức trả lương đã chọn trong một thời gian nhất định, trường hợp thay đổi hình thức trả lương thì phải thông báo cho người lao động biết trước ít nhất là 10 ngày.
Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng. Người lao động được nhận lương đầy đủ và đúng thời hạn. Nếu người sử dụng lao động trả lương chậm thì có thể phải trả thêm một khoản tiền.
Điều 24 Nghị định 05/2015/NĐ-CP đã hướng dẫn thêm về vấn đề này như sau:
“1. Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.
2. Trường hợp đặc biệt do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động thì không được trả chậm quá 01 tháng. Việc người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động do trả lương chậm được quy định như sau:
a) Nếu thời gian trả lương chậm dưới 15 ngày thì không phải trả thêm;
b) Nếu thời gian trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương. Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không quy định trần lãi suất thì được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của ngân hàng thương mại, nơi doanh nghiệp, cơ quan mở tài khoản giao dịch thông báo tại thời điểm trả lương.”
Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và được ấn định vào một thời điểm cố định trong tháng. Người lao động hưởng lương tháng được trả tháng một lần hoặc nửa tháng một lần và được trả vào thời điểm trả lương.
2.1. Trả lương theo thời gian
Hình thức trả lương theo thời gian thường được người sử dụng lao động lựa chọn áp dụng đối với những công việc mang tính chất thường xuyên và không xác định trước được về mặt số lượng công việc.
Tiền lương theo thời gian được trả cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế theo tháng, tuần, ngày, giờ, cụ thể :
– Tiền lương tháng được trả cho một tháng làm việc xác định trên cơ sở hợp đồng lao động.
Ví dụ 16: Người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận một tháng làm việc 20 ngày với mức lương 5 triệu đồng. Như vậy tiền lương tháng là 5 triệu đồng.
– Tiền lương tuần được trả cho một tuần làm việc xác định trên cơ sở tiền lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần;
Ví dụ 17: Tiền lương tháng là 5 triệu đồng. Vậy tiền lương tuần là:
(5 triệu đồng x 12 tháng) / 52 = 1.153.846 đồng
– Tiền lương ngày được trả cho một ngày làm việc xác định trên cơ sở tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của pháp luật mà doanh nghiệp lựa chọn, nhưng tối đa không quá 26 ngày;
Ví dụ 18: Tiền lương tháng là 5 triệu đồng, số ngày làm việc bình thường trong tháng là 20 ngày. Vậy tiền lương ngày là: 5 triệu đồng/ 20 ngày = 250 ngàn.
– Tiền lương giờ được trả cho một giờ làm việc xác định trên cơ sở tiền lương ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong ngày.
Ví dụ 19: Tiền lương tháng là 5 triệu đồng, số ngày làm việc bình thường trong tháng là 20 ngày, số giờ làm việc theo tiêu chuẩn là 8 giờ/1 ngày. Vậy tiền lương giờ là: 5 triệu đồng/ 20 ngày/ 8 giờ = 31.250 đồng.
2.2. Tiền lương theo sản phẩm
Hình thức trả lương theo sản phẩm thường được người sử dụng lao động lựa chọn áp dụng đối với những công việc tạo ra sản phẩm cụ thể, có số lượng rõ ràng. Hình thức trả lương này có tác dụng khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp.
Tiền lương theo sản phẩm được trả căn cứ vào mức độ hoàn thành số lượng, chất lượng sản phẩm theo định mức lao động và đơn giá sản phẩm được giao.
2.3. Tiền lương khoán
Đối với những công việc mà người sử dụng lao động chỉ quan tâm đến kết quả lao động, yếu tố quản lý không cần thiết thì người sử dụng lao động thường lựa chọn hình thức trả lương khoán. Hình thức trả lương này cũng có tác dụng khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động nhưng lại buộc người sử dụng lao động phải kiểm định kết quả lao động kỹ hơn.
Tiền lương khoán được trả căn cứ vào khối lượng, chất lượng công việc và thời gian phải hoàn thành.
3. Chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ
3.1. Các loại thời giờ làm thêm
Khi người lao động làm thêm giờ, người lao động được hưởng chế độ tiền lương làm thêm giờ. Các loại thời giờ làm thêm khác nhau thì chế độ tiền lương làm thêm giờ khác nhau. Hiện tại có các loại thời giờ làm thêm như sau:
– Thời giờ làm thêm ban ngày của ngày làm việc bình thường;
– Thời giờ làm thêm ban ngày của ngày nghỉ hàng tuần;
– Thời giờ làm thêm ban ngày của ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương;
– Thời giờ làm thêm ban đêm của ngày làm việc bình thường;
– Thời giờ làm thêm ban đêm của ngày nghỉ hàng tuần;
– Thời giờ làm thêm ban đêm của ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương.
Nếu người lao động có thời giờ làm việc vào ban đêm thì không được xem là làm thêm vào ban đêm nhưng được hưởng thêm một khoản tiền so với người lao động làm cùng công việc mà có thời giờ làm việc vào ban ngày.
3.2. Tiền lương làm thêm giờ
Căn cứ Điều 97 Bộ luật Lao động năm 2012, thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH, Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH, ta có thể xây dựng công thức tính tiền lương làm thêm giờ như sau:
a. Tiền lương làm thêm ban ngày
– Đối với người lao động hưởng lương theo thời gian, được trả lương làm thêm giờ khi làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động quy định như sau:

Trong đó:
+ Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả theo công việc đang làm của tháng mà người lao động làm thêm giờ chia cho số giờ thực tế làm việc trong tháng (không quá 208 giờ đối với công việc có điều kiện lao động, môi trường lao động bình thường và không kể số giờ làm thêm). Trường hợp trả lương theo ngày hoặc theo tuần, thì tiền lương giờ thực trả được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả của ngày hoặc tuần làm việc đó (trừ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm) chia cho số giờ thực tế làm việc trong ngày hoặc trong tuần (không quá 8 giờ/ngày và không kể số giờ làm thêm).
Tiền lương giờ thực trả nêu trên không bao gồm tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương; tiền thưởng, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động.
+ Mức ít nhất bằng 150% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày làm việc bình thường;
+ Mức ít nhất bằng 200% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần;
+ Mức ít nhất bằng 300% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, chưa kể tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định của Bộ luật Lao động, đối với người lao động hưởng lương theo ngày.
Người lao động hưởng lương ngày là những người có tiền lương thỏa thuận ghi trong hợp đồng lao động theo ngày và chưa bao gồm tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định của Bộ luật Lao động.
Người lao động làm thêm giờ vào ngày lễ, tết trùng vào ngày nghỉ hằng tuần được trả lương làm thêm giờ vào ngày nghỉ lễ, tết (ít nhất 300%). Người lao động làm thêm giờ vào ngày nghỉ bù khi ngày lễ, tết trùng vào ngày nghỉ hằng tuần được trả lương làm thêm giờ vào ngày nghỉ hằng tuần (ít nhất 200%).
Ví dụ 20: Giả sử ngày làm việc bình thường là từ thứ 2 đến thứ 6, ngày nghỉ hàng tuần là thứ 7 và chủ nhật. Ngày chủ nhật là ngày 1/5, người lao động được nghỉ bù vào ngày thứ 2. Nếu người lao động phải đi làm thêm vào ngày chủ nhật và thứ 2 nói trên thì tiền lương làm thêm được tính trả như sau:
– Ngày chủ nhật được tính trả ít nhất bằng 300% so với tiền lương của ngày làm việc bình thường.
– Ngày thứ 2 được tính trả ít nhất bằng 200% so với tiền lương của ngày làm việc bình thường.
Gọi A là tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường, L là viết tắt của tiền lương. Ta có thể tách công thức trên thành các công thức tính tiền lương làm thêm giờ ban ngày cụ thể như sau:

– Đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm, được trả lương làm thêm giờ khi người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường để làm thêm số lượng, khối lượng sản phẩm, công việc ngoài số lượng, khối lượng sản phẩm, công việc theo định mức lao động đã thỏa thuận và được tính như sau:

Trong đó:
+ Mức ít nhất bằng 150% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với sản phẩm làm thêm vào ngày làm việc bình thường;
+ Mức ít nhất bằng 200% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với sản phẩm làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần;
+ Mức ít nhất bằng 300% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với sản phẩm làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương.
Gọi A là đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường, ta có thể tách công thức trên thành các công thức tính tiền lương làm thêm giờ ban ngày cụ thể như sau:

b. Tiền lương làm việc ban đêm
Đối với người lao động hưởng lương theo thời gian, tiền lương làm việc vào ban đêm được tính như sau:

Trong đó tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả theo công việc đang làm của tháng mà người lao động làm thêm giờ chia cho số giờ thực tế làm việc trong tháng (không quá 208 giờ đối với công việc có điều kiện lao động, môi trường lao động bình thường và không kể số giờ làm thêm). Trường hợp trả lương theo ngày hoặc theo tuần, thì tiền lương giờ thực trả được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả của ngày hoặc tuần làm việc đó (trừ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm) chia cho số giờ thực tế làm việc trong ngày hoặc trong tuần (không quá 8 giờ/ngày và không kể số giờ làm thêm).
Tiền lương giờ thực trả nêu trên không bao gồm tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương; tiền thưởng, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động.
Gọi A là tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường, L là viết tắt của tiền lương, có thể rút gọn công thức trên như sau:
L = ít nhất 130% x A
Ví dụ 21: Người lao động thứ nhất có thời giờ làm việc ban ngày, có mức tiền lương là 10 ngàn đồng/1 giờ. Người lao động thứ hai làm cùng công việc, có thời giờ làm việc ban đêm thì sẽ có mức lương là: ít nhất 130% x 10 ngàn đồng = ít nhất 13 ngàn đồng.
c. Tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm

Trong đó:
– Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả theo công việc đang làm của tháng mà người lao động làm thêm giờ chia cho số giờ thực tế làm việc trong tháng (không quá 208 giờ đối với công việc có điều kiện lao động, môi trường lao động bình thường và không kể số giờ làm thêm). Trường hợp trả lương theo ngày hoặc theo tuần, thì tiền lương giờ thực trả được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả của ngày hoặc tuần làm việc đó (trừ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm) chia cho số giờ thực tế làm việc trong ngày hoặc trong tuần (không quá 8 giờ/ngày và không kể số giờ làm thêm).
Tiền lương giờ thực trả nêu trên không bao gồm tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương; tiền thưởng, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động.;
– Tiền lương giờ vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương được xác định như sau:
+ Tiền lương giờ vào ban ngày của ngày làm việc bình thường, được tính ít nhất bằng 100% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường đối với trường hợp người lao động không làm thêm giờ vào ban ngày của ngày đó (trước khi làm thêm giờ vào ban đêm); ít nhất bằng 150% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường đối với trường hợp người lao động có làm thêm giờ vào ban ngày của ngày đó (trước khi làm thêm giờ vào ban đêm).
+ Tiền lương giờ vào ban ngày của ngày nghỉ hằng tuần, được tính ít nhất bằng 200% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường.
+ Tiền lương giờ vào ban ngày của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, được tính ít nhất bằng 300% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường.
Gọi A là tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường, L là viết tắt của tiền lương, ta có thể phân tích và tách công thức trên thành các công thức tính tiền lương làm thêm giờ ban đêm cụ thể như sau:

– Đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm, tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm được tính như sau:

Trong đó:
– Đơn giá tiền lương sản phẩm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương được xác định như sau:
+ Đơn giá tiền lương sản phẩm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường, được tính ít nhất bằng 100% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường đối với trường hợp người lao động không làm thêm giờ vào ban ngày của ngày đó (trước khi làm thêm giờ vào ban đêm); ít nhất bằng 150% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường đối với trường hợp người lao động có làm thêm giờ vào ban ngày của ngày đó (trước khi làm thêm giờ vào ban đêm);
+ Đơn giá tiền lương sản phẩm vào ban ngày của ngày nghỉ hằng tuần, được tính ít nhất bằng 200% so với đơn giá sản phẩm của ngày làm việc bình thường.
+ Đơn giá sản phẩm vào ban ngày của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, được tính ít nhất bằng 300% so với đơn giá sản phẩm của ngày làm việc bình thường.
Gọi A là đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường, ta có thể tách công thức trên thành các công thức tính tiền lương làm thêm giờ ban đêm cụ thể như sau:

4. Chế độ trả lương trong một số trường hợp khác
4.1. Trả lương khi ngừng việc
Theo Điều 98 Bộ luật Lao động 2012, trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:
– Nếu do lỗi của người sử dụng lao động thì người lao động phải được trả đủ tiền lương.
– Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do chính phủ quy định.
– Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động, người lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế, thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do chính phủ quy định.
Theo Khoản 1 Điều 26 Nghị định 05/2015/NĐ-CP thì tiền lương làm căn cứ để trả cho người lao động trong thời gian ngừng việc nói trên là tiền lương ghi trong hợp đồng lao động khi người lao động phải ngừng việc và được tính tương ứng với các hình thức trả lương theo thời gian.
4.2. Trả lương thông qua người cai thầu
Theo Điều 99 Bộ luật Lao động năm 2012, nơi nào sử dụng người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự thì người sử dụng lao động là chủ chính phải có danh sách và địa chỉ của những người này kèm theo danh sách những người lao động làm việc với họ và phải bảo đảm việc họ tuân theo quy định của pháp luật về trả công lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động.
Trường hợp người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự trả thiếu hoặc không trả lương và không bảo đảm các quyền lợi khác cho người lao động, thì người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm trả lương và bảo đảm các quyền lợi đó cho người lao động. Trong trường hợp này, người sử dụng lao động là chủ chính có quyền yêu cầu người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự đền bù hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.

Bài giảng liên quan: Sơ lược về hợp đồng lao động, Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp, Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, Hợp đồng lao động vô hiệu, Ngày nghỉ hàng năm của người lao động, Kỷ luật lao động-Trách nhiệm vật chất, Giải quyết tranh chấp lao động tập thể, Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, Trợ cấp thôi việc, Trợ cấp mất việc làm, Chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *