Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Bài giảng: Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
© ThS. Nguyễn Thị Thu Hoài. Khoa luật. Đại học Đà Lạt

Căn cứ pháp lý: Điều 44, Điều 45 Bộ luật Lao động 2012; Thông tư 04/2015/TT-BLĐTBXH; Điều 38, Điều 43, Điều 45, Điều 46, Điều 47, Điều 48, Điều 49, Điều 50, Điều 51, Điều 53, Điều 54 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015; Điều 42 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, Điều 5 Nghị định 37/2016/NĐ-CP.
1. Khái niệm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Áp dụng đối với cả người học nghề, tập nghề và thử việc.
Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động.
Theo quy định, hiện nay nước ta có 34 loại bệnh nghề nghiệp.
Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải được cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo.
2. Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Căn cứ pháp lý: Điều 38 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015
Người sử dụng lao động có trách nhiệm đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như sau:
Thứ nhất, kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp;
Thứ hai, thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp như sau:
– Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;
– Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;
– Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;
Thứ ba, trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;
Thứ tư, bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp.
Thứ năm, trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động mà do lỗi của c;hính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức bồi thường với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng;
Thứ sáu, giới thiệu để người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định pháp luật;
Thứ bảy, thực hiện bồi thường, trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra tai nạn lao động công bố biên bản điều tra tai nạn lao động đối với các vụ tai nạn lao động chết người;
Thứ tám, sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị, phục hồi chức năng nếu còn tiếp tục làm việc;
Thứ chín, lập hồ sơ hưởng chế độ về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật. Nếu người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì phải thay cơ quan bảo hiểm xã hội trả chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động
2.1. Vấn đề bồi thường
a. Đối tượng được bồi thường
Đối tượng được người sử dụng lao động bồi thường khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bao gồm:
– Người lao động bị tai nạn lao động làm suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên hoặc bị chết, trừ trường hợp tai nạn lao động mà nguyên nhân xảy ra tai nạn hoàn toàn do lỗi của chính người lao động bị nạn theo kết luận của biên bản điều tra tai nạn lao động.
– Người lao động bị tai nạn khi thực hiện nhiệm vụ hoặc tuân theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động ở ngoài phạm vi cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, nếu do lỗi của người khác (không phải là lỗi của bản thân người lao động bị tai nạn) gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn.
– Người lao động bị bệnh nghề nghiệp theo kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa hoặc của cơ quan pháp y có thẩm quyền, thì được bồi thường trong các trường hợp sau:
+ Bị chết do bệnh nghề nghiệp khi đang làm việc hoặc trước khi chuyển làm công việc khác, trước khi thôi việc, trước khi mất việc, trước khi nghỉ hưu;
+ Bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bệnh nghề nghiệp theo kết quả thực hiện khám giám định bệnh nghề nghiệp định kỳ (theo quy định của Bộ Y tế).
b. Nguyên tắc bồi thường
– Việc bồi thường đối với người lao động bị tai nạn lao động được thực hiện từng lần. Tai nạn lao động xảy ra lần nào thực hiện bồi thường lần đó, không cộng dồn các vụ tai nạn đã xảy ra từ các lần trước đó;
– Việc bồi thường đối với người lao động bị bệnh nghề nghiệp được thực hiện từng lần theo quy định sau:
+ Lần thứ nhất căn cứ vào mức (%) suy giảm khả năng lao động (tỷ lệ tổn thương cơ thể) trong lần khám đầu;
+ Từ lần thứ hai trở đi căn cứ vào mức (%) suy giảm khả năng lao động tăng lên để bồi thường phần chênh lệch mức (%) suy giảm khả năng lao động so với kết quả giám định lần trước liền kề.
Ví dụ 22: Ông A bị bệnh nghề nghiệp, giám định sức khỏe lần thứ nhất xác định mức suy giảm khả năng lao động là 15%. Mức bồi thường lần thứ nhất cho ông A sẽ được căn cứ vào mức suy giảm khả năng lao động là 15%.
Định kỳ, ông A giám định sức khỏe lần thứ hai thì mức suy giảm khả năng lao động được xác định là 45%. Mức suy giảm khả năng lao động đã tăng hơn so với lần thứ nhất là 30%. Vậy mức bồi thường lần thứ hai cho ông A sẽ được căn cứ vào mức suy giảm khả năng lao động là 30%
c. Mức bồi thường
Mức bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được tính như sau:
– Ít nhất bằng 30 tháng tiền lương đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
– Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương đối với người bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 10%; nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80% thì cứ tăng 1% sẽ được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo công thức dưới đây hoặc tra theo bảng tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư 04/2015/TT-BLĐTBXH (xem phụ lục cuối bài)
Công thức tính mức bồi thường:
Tbt = 1,5 + {(a – 10) x 0,4}
Trong đó:
– Tbt: Mức bồi thường cho người bị suy giảm khả năng lao động từ 11% trở lên (đơn vị tính: tháng tiền lương);
– 1,5: Mức bồi thường khi suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 10%;
– a: Mức (%) suy giảm khả năng lao động của người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
– 0,4: Hệ số bồi thường khi suy giảm khả năng lao động tăng 1%.
Ví dụ 23: Ông A bị tai nạn lao động tháng 8/2016 không do lỗi của ông A. Sau khi điều trị ổn định tại bệnh viện ông được giám định có mức suy giảm khả năng lao động là 35%.
Áp dụng công thức: Tbt = 1,5 + {(a – 10) x 0,4} ta được:
Tbt = 1,5 + {(35 – 10) x 0,4} = 11,5.
Hoặc tra theo bảng trong phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư 04/2015/TT-BLĐTBXH tại số tứ thự thứ 26, cột “Mức bồi thường ít nhất” ta có kết quả 11,5 tháng lương tương ứng với mức suy giảm khả năng lao động 35%.
2.2. Vấn đề trợ cấp
a. Đối tượng được trợ cấp:
Người lao động bị tai nạn làm suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên hoặc bị chết trong các trường hợp sau thì được trợ cấp:
– Tai nạn lao động mà nguyên nhân xảy ra tai nạn hoàn toàn do lỗi của chính người lao động bị nạn theo kết luận của biên bản điều tra tai nạn lao động;
– Tai nạn xảy ra đối với người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở, tại địa điểm và thời gian hợp lý (căn cứ theo hồ sơ giải quyết vụ tai nạn của cơ quan công an hoặc giấy xác nhận của chính quyền địa phương hoặc giấy xác nhận của công an khu vực tại nơi xảy ra tai nạn).
– Người lao động bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở tại địa điểm và thời gian hợp lý, nếu do lỗi của người khác (không phải là lỗi của bản thân người lao động bị tai nạn) gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn.
b. Nguyên tắc trợ cấp:
Việc trợ cấp được thực hiện từng lần; tai nạn lao động xảy ra lần nào thực hiện trợ cấp lần đó, không cộng dồn các vụ tai nạn đã xảy ra từ các lần trước đó.
c. Mức trợ cấp:
– Ít nhất bằng 12 tháng tiền lương đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc chết do tai nạn lao động;
– Ít nhất bằng 0,6 tháng tiền lương đối với người bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 10%; nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80% thì tra bảng theo mức bồi thường tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư 04/2015/TT-BLĐTBXH (Xem phụ lục cuối bài) hoặc tính theo công thức dưới đây:
Ttc = Tbt x 0,4
Trong đó:
– Ttc: Mức trợ cấp cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ trên 10% trở lên (đơn vị tính: tháng tiền lương);
– Tbt: Mức bồi thường cho người bị suy giảm khả năng lao động từ trên 10% trở lên (đơn vị tính: tháng tiền lương).
Ví dụ 24: Ông A bị tai nạn lao động tháng 8/2016 do lỗi của ông A. Sau khi điều trị ổn định tại bệnh viện ông được giám định có mức suy giảm khả năng lao động là 35%.
Áp dụng công thức: Ttc = Tbt x 0,4
Trong đó: Tbt = 1,5 + {(a – 10) x 0,4} = 1,5 + {(35 – 10) x 0,4} = 11,5.
Vậy Ttc = 11,5 x 0.4 = 4,6
Hoặc tra theo bảng trong phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư 04/2015/TT-BLĐTBXH tại số tứ thự thứ 26, cột “Mức trợ cấp ít nhất” ta có kết quả 4,6 tháng lương tương ứng với mức suy giảm khả năng lao động 35%.
Lưu ý, trường hợp người sử dụng lao động đã mua bảo hiểm tai nạn cho người bị tai nạn lao động tại các đơn vị hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, thì người bị tai nạn lao động được hưởng các khoản chi trả bồi thường, trợ cấp theo hợp đồng đã ký với đơn vị kinh doanh dịch vụ bảo hiểm. Nếu số tiền mà đơn vị kinh doanh dịch vụ bảo hiểm trả cho người bị tai nạn lao động thấp hơn mức bồi thường, trợ cấp tính theo quy định của pháp luật lao động, thì người sử dụng lao động phải trả phần còn thiếu để tổng số tiền người bị tai nạn lao động hoặc thân nhân của người bị tai nạn lao động nhận được ít nhất bằng mức bồi thường, trợ cấp tính theo quy định của pháp luật lao động.
2.3. Tiền lương làm căn cứ tính bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Căn cứ pháp lý: Điều 6 Thông tư 04/2015/TT-BLĐTBXH.
Tiền lương làm căn cứ tính tiền bồi thường hoặc trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là tiền lương được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi tai nạn lao động xảy ra hoặc trước khi bị bệnh nghề nghiệp. Nếu thời gian làm việc, học nghề, tập nghề, thử việc, tập sự không đủ 6 tháng thì tiền lương làm căn cứ tính tiền bồi thường, trợ cấp là tiền lương được tính bình quân của các tháng trước liền kề thời điểm xảy ra tai nạn lao động, thời điểm xác định bị bệnh nghề nghiệp. Mức tiền lương tháng nói trên được xác định cụ thể theo từng đối tượng như sau:
Thứ nhất, đối với công chức, viên chức, người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân thì tiền lương làm căn cứ tính tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có);
Thứ hai, đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì tiền lương làm căn cứ tính tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là tiền lương ghi trên hợp đồng lao động, bao gồm cả tiền lương theo công việc, chức danh và phụ cấp lương (nếu có);
Thứ ba, đối với người lao động đang trong thời gian học nghề, tập nghề tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chưa có mức lương học nghề, tập nghề thì tiền lương làm căn cứ tính tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố tại địa điểm người lao động làm việc; trường hợp cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có mức lương học nghề, tập nghề thì tiền lương làm căn cứ tính tiền bồi thường, trợ cấp cho người lao động đang trong thời gian học nghề, tập nghề là tiền lương học nghề, tập nghề do hai bên thỏa thuận;
Thứ tư, đối với người lao động đang trong thời gian thử việc, tập sự thì tiền lương làm căn cứ tính tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là tiền lương thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng không thấp hơn 85% mức lương của công việc đó hoặc tiền lương tập sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
3. Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội
Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, ngoài những quyền lợi được hưởng từ người sử dụng lao động, còn được hưởng thêm chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội.
3.1. Đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Theo Điều 42 Luật bảo hiểm xã hội 2014 và Điều 43 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015 đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là người lao động gồm:
– Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
– Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
– Cán bộ, công chức, viên chức;
– Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;
– Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
– Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
– Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
3.2. Điều kiện được hưởng
Theo Điều 45 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015, người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ hai điều kiện sau đây:
Thứ nhất, bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh;
– Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;
– Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;
Thứ hai, suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn thuộc các trường hợp nêu trên;
Theo Khoản 3 Điều 46 và Khoản 1 Điều 40 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015, người lao động không được hưởng chế độ do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi trả nếu thuộc một trong các nguyên nhân sau:
– Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;
– Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân;
– Do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.
Theo Điều 46 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015, người lao động được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi có đủ hai điều kiện sau đây:
Thứ nhất, bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ y tế và Bộ LĐTBXH ban hành khi làm việc trong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại (xem phụ lục 2)
Thứ hai, suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị bệnh nêu trên.
Theo Khoản 2 Điều 46 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015 và Điều 6 Nghị định 37/2016/NĐ-CP Người lao động đã nghỉ hưu hoặc không còn làm việc trong các nghề, công việc có nguy cơ bị bệnh nghề nghiệp mà phát hiện bị bệnh nghề nghiệp do yếu tố tác hại của nghề cũ gây nên trong khoảng thời gian bảo đảm kể từ ngày nghỉ hưu, chuyển việc khác hoặc thôi việc thì được chủ động đi khám phát hiện và giám định mức suy giảm khả năng lao động do mắc bệnh nghề nghiệp.
3.3. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp
3.3.1. Vấn đề giám định mức suy giảm khả năng lao động
Căn cứ pháp lý: Điều 47 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015
Để xác định được chế độ hưởng và mức hưởng, người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải được giám định mức suy giảm khả năng lao động.
Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định hoặc giám định lại mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Sau khi bị thương tật, bệnh tật lần đầu đã được điều trị ổn định còn di chứng ảnh hưởng tới sức khỏe;
– Sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định;
– Đối với trường hợp thương tật hoặc bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế thì người lao động được làm thủ tục giám định trước hoặc ngay trong quy trình điều trị.
Người lao động được giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong cáctrường hợp sau đây:
– Vừa bị tai nạn lao động vừa bị bệnh nghề nghiệp;
– Bị tai nạn lao động nhiều lần;
– Bị nhiều bệnh nghề nghiệp.
Người lao động thuộc trường hợp sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định được giám định lại tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau 24 tháng, kể từ ngày người lao động được Hội đồng giám định y khoa kết luận tỷ lệ suy giảm khả năng lao động liền kề trước đó; trường hợp do tính chất của bệnh nghề nghiệp khiến người lao động suy giảm sức khỏe nhanh thì thời gian giám định được thực hiện sớm hơn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
3.3.2. Chế độ trợ cấp
Theo Điều 43 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015 và Điều 5 Nghị định 37/2016/NĐ-CP, trường hợp người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo từng hợp đồng lao động đã giao kết nếu người lao động thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Người lao động được hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng hoặc một lần được tính trên cơ sở tổng các mức tiền lương làm căn cứ đóng vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của tất cả các hợp đồng lao động tại thời điểm xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nhưng không quá mức tối đa theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội.
Tùy vào mức suy giảm khả năng lao động mà người lao động sẽ được hưởng chế độ tai nạn lao động theo hình thức trợ cấp một lần hoặc hàng tháng.
a. Trợ cấp một lần
Căn cứ pháp lý: Điều 48 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015
Nếu người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần.
Mức trợ cấp một lần được tính dựa trên mức suy giảm khả năng lao động và số năm đã đóng vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, cụ thể như sau:
– Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng năm lần mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở;
– Ngoài mức trợ cấp căn cứ vào mức suy giảm khả năng lao động nói trên, người lao động còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được tính thêm 0,3 tháng tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị tai nạn lao động hoặc được xác định mắc bệnh nghề nghiệp; trường hợp bị tai nạn lao động ngay trong tháng đầu tham gia đóng vào quỹ hoặc có thời gian tham gia gián đoạn sau đó trở lại làm việc thì tiền lương làm căn cứ tính khoản trợ cấp này là tiền lương của chính tháng đó.
Gọi M là mức hưởng chế độ tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, m là mức suy giảm khả năng lao động, t là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, L là tiền lương theo hợp đồng lao động, l là mức lương cơ sở. Ta có công thức tính mức trợ cấp một lần như sau:
M = 5l + (m-5) x 0.5l + 0.5L + (t-1) x 0.3L
Ví dụ 23: Ông C bị tai nạn lao động tháng 4/2016. Sau khi điều trị ổn định tại bệnh viện ông được giám định có mức suy giảm khả năng lao động là 25%. Ông C có 12 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Mức tiền lương theo hợp đồng lao động trong tháng 3/2016 là 5.100.000 đồng/ tháng. Tiền lương tối thiểu chung: 1.150.000 đồng.
Vậy, áp dụng công thức M = 5l + (m-5) x 0.5l + 0.5L + (t-1) x 0.3L ta được:
M = 5 x 1.150.000 + (25-5) x 0.5 x 1.150.000 + 0.5 x 5.100.000 + (12-1) x 0.3 x 5.100.000 = 36.630.000 đồng.
b. Trợ cấp hàng tháng
Căn cứ pháp lý: Điều 49 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015
Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng.
Mức trợ cấp hằng tháng được tính dựa trên mức suy giảm khả năng lao động và số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Cụ thể như sau:
– Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở;
– Ngoài mức trợ cấp được tính theo mức suy giảm khả năng lao động nói trên, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được tính thêm 0,3% mức tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị tai nạn lao động hoặc được xác định mắc bệnh nghề nghiệp; trường hợp bị tai nạn lao động ngay trong tháng đầu tham gia đóng vào quỹ hoặc có thời gian tham gia gián đoạn sau đó trở lại làm việc thì tiền lương làm căn cứ tính khoản trợ cấp này là tiền lương của chính tháng đó.
Gọi M là mức hưởng chế độ tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, m là mức suy giảm khả năng lao động, t là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, L là tiền lương theo hợp đồng lao động, l là mức lương cơ sở. Ta có công thức tính mức trợ cấp hàng tháng như sau:
M = 0.3l + (m-31) x 0.02l + 0.005L + (t-1) x 0.003L
Ví dụ 24: Ông C bị tai nạn lao động tháng 4/2016. Sau khi điều trị ổn định tại bệnh viện ông được giám định có mức suy giảm khả năng lao động là 35%. Ông C có 12 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Mức tiền lương theo hợp đồng lao động trong tháng 3/2016 là 5.100.000 đồng/ tháng. Tiền lương tối thiểu chung: 1.150.000 đồng.
Vậy áp dụng công thức: M = 0.3l + (m-31) x 0.02l + 0.005L + (t-1) x 0.003L ta được:
M = 0.3 x 1.150.000 + (35-31) x 0.02 x 1.150.000 + 0.005 x 5.100.000 + (12-1) x 0.003 x 5.100.000 = 630.800 đồng/tháng.
Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì ngoài mức hưởng trợ cấp hàng tháng, hằng tháng còn được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương cơ sở (Theo Khoản 2 Điều 46 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015 và Điều 6 Nghị định 37/2016/NĐ-CP).
3.3.3. Trợ cấp khi người lao động chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Căn cứ pháp lý: Điều 53 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015
Thân nhân người lao động được hưởng trợ cấp một lần bằng ba mươi sáu lần mức lương cơ sở tại tháng người lao động bị chết và được hưởng chế độ tử tuất theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, người lao động đang làm việc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
Thứ hai, người lao động bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
Thứ ba, người lao động bị chết trong thời gian điều trị thương tật, bệnh tật mà chưa được giám định mức suy giảm khả năng lao động.
3.3.4. Thời điểm hưởng trợ cấp
Căn cứ pháp lý: Điều 50 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015
Thời điểm hưởng trợ cấp một lần, hàng tháng, trợ cấp phục vụ được tính từ tháng người lao động điều trị ổn định xong, ra viện hoặc từ tháng có kết luận của Hội đồng giám định y khoa trong trường hợp không điều trị nội trú;
Trường hợp giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động, thời điểm trợ cấp được tính kể từ tháng người lao động điều trị xong, ra viện của lần điều trị đối với tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau cùng hoặc từ tháng có kết luận giám định tổng hợp của Hội đồng giám định y khoa trong trường hợp không điều trị nội trú.
Trường hợp bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà sau đó không xác định được thời điểm điều trị ổn định xong, ra viện thì thời điểm hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng giám định y khoa; trường hợp bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp thì thời điểm hưởng trợ cấp tính từ tháng người lao động được cấp Giấy chứng nhận bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.
Trường hợp người lao động được đi giám định lại và giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động thì thời điểm hưởng trợ cấp mới được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng giám định y khoa.
3.3.5. Phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình
Theo Điều 51 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015, người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp tiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật và theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng bảo đảm yêu cầu, điều kiện chuyên môn, kỹ thuật.
3.4 Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị thương tật, bệnh tật
Căn cứ pháp lý: Điều 54 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015
Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp, trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 05 ngày đến 10 ngày cho một lần bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Trường hợp chưa nhận được kết luận giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc thì người lao động vẫn được giải quyết chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho người lao động sau khi điều trị thương tật, bệnh tật nếu Hội đồng giám định y khoa kết luận mức suy giảm khả năng lao động đủ điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động và Ban chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa thành lập công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định như sau:
– Tối đa 10 ngày đối với trường hợp bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp có mức suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên;
– Tối đa 07 ngày đối với trường hợp bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp có mức suy giảm khả năng lao động từ 31% đến 50%;
– Tối đa 05 ngày đối với trường hợp bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp có mức suy giảm khả năng lao động từ 15% đến 30%.
Mức hưởng dưỡng sức phục hồi sức khỏe được tính bằng 30% mức lương cơ sở cho mỗi ngày.

Bài giảng liên quan: Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp, Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, Hợp đồng lao động vô hiệu, Chế độ tiền lương của người lao động, Ngày nghỉ hàng năm của người lao động, Kỷ luật lao động-Trách nhiệm vật chất, Giải quyết tranh chấp lao động tập thể, Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, Trợ cấp thôi việc, Trợ cấp mất việc làm, Chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp; Chế độ thai sản; Chế độ hưu trí; Chế độ tử tuất; Chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *